Mô hình vai đầu vai ngược hay đôi khi được gọi là vai đầu vai ở đáy là một mô hình đảo chiều tăng giá ở đáy mà theo nghiên cứu của Bulkowski (2005) thì mức tăng tối đa trung bình là 38%. Mô hình bao gồm ba đáy “V”, với đáy thứ nhất và thứ ba có chiều cao gần bằng nhau và đáy thứ hai hoặc giữa thấp hơn đáy thứ nhất và thứ ba. Mô hình vai đầu vai ngược có 2 đỉnh là giá cao giữa đáy của vai đầu tiên (bên trái) với đáy của đầu ở giữa và đáy của đầu ở giữa với đáy của vai cuối cùng (bên phải).

Đường viền cổ dốc lên

Một đường kẻ giữa hai đỉnh cao được gọi là đường viền cổ. Có ba biến thể của mô hình vai đầu vai ngược vì nó liên quan đến đường viền cổ này: Thứ nhất, nếu đỉnh thứ hai cao hơn đỉnh đầu tiên, nó là một đường viền cổ dốc lên.

Đường viền cổ dốc xuống

Thứ hai, nếu đỉnh thứ hai thấp hơn đỉnh thứ nhất, thì đó là một đường viền cổ dốc xuống; và thứ ba và hiếm khi gặp, khi cả hai đỉnh cao đều bằng giá thì nó là một đường viền cổ ngang.

Tâm lý giao dịch của mô hình vai đầu vai ngược

Tâm lý giao dịch của mô hình vai đầu vai ngược được giải thích như sau: Mô hình vai đầu vai ngược xuất hiện trong xu hướng giảm, với vai trái là mức thấp hơn bổ sung cho xu hướng giảm. Đỉnh đầu tiên sau vai trái chỉ là một sự điều chỉnh đã được dự đoán ngắn hạn ​​khác trong xu hướng giảm. Từ đó giá tiếp tục đi xuống và tạo ra một mức thấp khác thấp hơn (tạo ra phần đầu). Lúc này mô hình vai đầu vai ngược chưa phải là mô hình đầu và vai; nó chỉ là một mức thấp hơn, với một mức điều chỉnh ngắn lên trên và mức thấp thứ hai thấp hơn trong xu hướng giảm. Tuy nhiên, các vấn đề bắt đầu phát sinh ở đỉnh điều chỉnh thứ hai hoặc đáy vai phải.

Đối với một đường viền cổ dốc lên, đỉnh thứ hai được tạo ra bởi sự điều chỉnh sau đáy thấp nhất của phần đầu cao hơn nhiều so với dự kiến. Vì đỉnh thứ hai là một đỉnh cao hơn và một định nghĩa về xu hướng giảm nói rằng giá tạo ra đáy và đỉnh thấp hơn, về mặt kỹ thuật, xu hướng giảm đã kết thúc và một xu hướng tăng mới có thể bắt đầu. Đáy của phần vai bên phải cao hơn đáy của phần đầu xác nhận xu hướng giảm tiềm năng kết thúc bởi vì bây giờ có đỉnh và đáy cao hơn, một trong những định nghĩa chính của xu hướng tăng.

Tuy nhiên, đối với mô hình vai đầu vai ngược đường viền cổ dốc xuống, đỉnh thứ hai được tạo ra bởi sự điều chỉnh từ đáy của phần đầu vẫn là đỉnh thấp hơn và cho thấy xu hướng giảm vẫn chưa kết thúc. Các nhà giao dịch mới bắt đầu lo lắng cho đến khi vai phải không tạo được đáy thấp hơn nữa. Khi đường viền cổ bị phá vỡ ở trên đường viền cổ dốc xuống theo mô hình vai đầu vai ngược, về cơ bản đường kháng cự dốc xuống của xu hướng giảm trước đó đã bị phá vỡ.

Tín hiệu mua và mục tiêu giá

Kirkpatrick và Dahlquist (2010) cho rằng giá phá vỡ đường viền cổ sẽ kích hoạt tín hiệu mua nhưng cảnh báo không bao giờ giao dịch với dự đoán của tín hiệu phá vỡ đường viền cổ vì “rủi ro thất bại là quá lớn”; họ cũng đề xuất một mục tiêu giá là chiều cao của mô hình (giá cao nhất trong hai đỉnh trừ đi giá thấp nhất của đáy phần đầu) cộng với giá phá vỡ (trang 329). Tuy nhiên, Bulkowski (2008) đề xuất một mục tiêu giá nhỏ hơn:

Mục tiêu giá phá vỡ đi lên của mô hình vai đầu vai ngược:
Giá phá vỡ + ((Giá đường viền cổ – Giá thấp nhất của phần đầu) * 74%)

Các đặc điểm làm tăng hiệu quả của mô hình vai đầu vai ngược

Các đặc điểm của mô hình vai đầu vai ngược làm tăng khả năng sinh lời của nó (Bulkowski, 2008)

  • Mức giảm giá càng mạnh trước mô hình, giá càng mạnh hơn khi đảo chiều
  • Các mô hình có đường dốc xuống thì hoạt động hiệu quả nhất
  • Các mô hình có đường dốc lên hoạt động hiệu quả nhất
  • Vai trái cao hơn bên phải sẽ tăng hiệu quả của mô hình

Mô hình vai đầu vai ngược phức tạp

Một biến thể của mô hình vai đầu vai ngược là mô hình vai đầi vai ngược phức tạp. Về cơ bản, có nhiều vai trái và / hoặc phải và / hoặc nhiều đầu thay vì chỉ có một vai trái, một vai phải và một đầu.

Ngoài ra, ngược lại với mô hình vai đầu vai ngược là mô hình vai đầu vai là một mô hình đảo chiều ở đỉnh.

Biểu đồ minh họa mô hình vai đầu vai ngược (Đường viền cổ dốc xuống)

Biểu đồ trên của Gold ETF (GLD) cho thấy mô hình vai đầu vai ngược với đường viền cổ dốc xuống. Tất cả các khoảng trống chủ yếu là do hợp đồng tương lai Vàng giao dịch trong 24 giờ trong khi biểu đồ trên của GLD giao dịch trong các giờ bình thường của Phố Wall. Lưu ý rằng bốn giá trọng tâm quan trọng đầu tiên của mô hình vai đầu vai ngược: vai trái – một đáy thấp mới, đỉnh điều chỉnh đầu tiên – một đỉnh thấp hơn, đầu – một đáy khác thấp hơn và đỉnh điều chỉnh thứ hai – một đỉnh thấp hơn phù hợp để tiếp tục xu hướng giảm. Chỉ khi vai phải tạo ra đáy cao hơn, thì thị trường mới có bất kỳ tín hiệu nào cho thấy xu hướng giảm đã kết thúc. Khi giá vượt qua đường viền cổ của kháng cự tăng, thì tín hiệu thứ hai đã được đưa ra, đó là khi đỉnh tiếp theo là đỉnh cao hơn thay vì đỉnh thấp hơn như hai đỉnh điều chỉnh trước đó.

Biểu đồ minh họa mô hình vai đầu vai ngược (Đường viền cổ dốc lên)

Ví dụ biểu đồ ở trên của Russell 2000 ETF (IWM) cho thấy mô hình tạo đáy vai đầu vai ngược với một đường viền cổ dốc lên. Biểu đồ này cho thấy một xu hướng giảm với đỉnh thấp hơn và đáy thấp hơn. Vai trái tạo một đáy thấp mới khác và đỉnh điều chỉnh đầu tiên là đỉnh thấp hơn. Như vậy xu hướng giảm vẫn còn. Giá di chuyển thấp hơn tạo ra một đáy thấp mới khác (phần đầu). Xu hướng vẫn chưa chuyển sang tích cực, mặc dù mô hình vai đầu vai ngược đã hoàn thành một nửa. Chỉ khi sự điều chỉnh trên đáy thấp nhất của phần đầu tạo ra đỉnh cao hơn đỉnh đầu tiên thì tín hiệu cảnh báo mới xuất hiện rằng xu hướng giảm đang gặp khó khăn. Đáy cao hơn (vai phải) xác nhận rằng xu hướng giảm đang gặp khó khăn vì bây giờ đã có đỉnh cao hơn và đáy cao hơn – một trong những định nghĩa của xu hướng tăng. Khi giá vượt qua vùng kháng cự đường viền cổ, tín hiệu mua được đưa ra và giá sẽ tăng.

Biểu đồ minh họa mô hình vai đầu vai ngược (Đường viền cổ nằm ngang)

Biểu đồ phía trên của Energy SPDR ETF cho thấy mô hình vai đầu vai ngược với đường viền cổ nằm ngang trong đó đỉnh điều chỉnh giữa vai và đầu đều bằng nhau.

Nguồn tham khảo:

  1. Kirkpatrick II, C.D., & Dahlquist, J.R. (2010). Technical Analysis: The Complete Resource for Financial Market Technicians (2nd ed.). Upper Saddle River, NJ: FT Press.
  2. Rockefeller, B. (2011). Technical Analysis For Dummies (2nd ed.). Hoboken: John Wiley & Sons.
  3. The Pattern Site. (2008). Bulkowski’s Measure Rule. Retrieved June 1, 2012, from http://thepatternsite.com/measure.html
  4. The Pattern Site. (2005). Bulkowski’s Head-and-Shoulders Bottoms . Retrieved June 1, 2012, from http://thepatternsite.com/hsb.html

Copyright @ www.finvids.com

Về tác giả

Viết nhận xét