Mô hình giá tam giác

Mô hình tam giác có ba loại: Cân/Đối xứng, Tăng dần và Giảm dần. Cả ba đều có chung một điểm là phạm vi giá (Giá cao – giá thấp) của các thanh giá riêng lẻ bên trái lớn hơn của biểu đồ (được gọi là vùng khởi điểm) và phạm vi giá sẽ nhỏ dần theo thời gian. Phía bên phải của mô hình được gọi là đỉnh và là nơi có phạm vi giá nhỏ nhất.

Mô hình tam giác cân/đối xứng

Mô hình tam giác đối xứng (còn được gọi là cuộn dây hoặc tam giác cân) xảy ra khi có 01 đường kháng cự dốc xuống và 01 đường hỗ trợ dốc lên gặp nhau ở phía bên phải của mẫu hình. Về mặt kỹ thuật, để mô hình tam giác có hiệu lực, đường hỗ trợ và kháng cự phải được giá tiếp xúc 2 lần.

Hướng và thời điểm phá vỡ của mô hình tam giác cân

Kirkpatrick và Dahlquist nói rằng tam giác đối xứng phá vỡ lên trên khoảng 54% và những phá vỡ này trung bình khoảng 73% -75% theo hướng hình thành tam giác (khởi đầu hoặc bên trái của tam giác, sẽ được coi là 0% và đỉnh , hoặc bên phải của tam giác, sẽ được coi là 100%) và khối lượng ngày càng tăng khi đột phá có liên quan đến hiệu suất tốt hơn của mô hình tam giác đối xứng (2010, trang 318).

Hiệu suất khi giá phá vỡ mô hình tam giác cân

Hiệu suất của tam giác cân như sau (Kirkpatrick và Dahlquist, 2010, trang 315):
Giá phá vỡ lên trên: Giá không thể tăng ít nhất 5% từ điểm phá vỡ 9%; mức tăng tối đa trung bình trước khi giảm 20% là 31%.
Giá phá vỡ xuống dưới: Giá không thể tăng ít nhất 5% từ điểm phá vỡ 13%; mức lợi nhuận tối đa trung bình từ việc bán khống trước khi đảo chiều 20% trở lên là 17%.

Mục tiêu giá khi giá phá vỡ mô hình tam giác cân

Nói chung, các nhà phân tích kỹ thuật đề nghị lấy độ cao của mô hình và sau đó cộng hoặc trừ độ cao với giá phá vỡ (Rockefeller, 2011, trang 165). Tuy nhiên, nhà nghiên cứu mô hình biểu đồ cần lưu ý, Bulkowski (2008) đề xuất các mục tiêu giá đột phá sau cho tam giác đối xứng:

Mô hình tam giác cân phá vỡ lên trên:
Giá phá vỡ + ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)*66%

Mô hình tam giác cân phá vỡ xuống dưới:
Giá phá vỡ – ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)*48%)

Biểu đồ minh họa của mô hình tam giác cân

Biểu đồ trên của Oracle (ORCL) cho thấy một mô hình tam giác cân trong một xu hướng tăng. Lưu ý rằng giống như tam giác cân thông thường, điểm phá vỡ xảy ra ở khoảng 3/4 của hình thành tam giác. Nó cũng có một thanh giá lớn điều chỉnh sau khi phá vỡ đi lên. Kirkpatrick và Dahlquist (2008) cho rằng sự sụt giảm này sau khi phá vỡ đi lên xảy ra khoảng 37% (với sự phá vỡ đi xuống, một đợt điều chỉnh xảy ra khoảng 59%). Cũng lưu ý rằng trong biểu đồ cụ thể này, giá đã tăng vọt. Thông thường khi giá tăng nhanh (như trường hợp có khoảng trống), giá có xu hướng nghỉ ngơi. Hình tam giác cân là sự thể hiện trực quan của phần còn lại này, nơi giá trở nên ít biến động hơn và khó có thể di chuyển lớn theo hướng này hay hướng khác cho đến khi khoảng 3/4 của mô hình tam giác.

Mô hình tam giác tăng

Mô hình tam giác tăng xảy ra khi có một đường kháng cự ngang và một đường hỗ trợ dốc lên gặp nhau ở phía bên phải của mô hình. Để mô hình tam giác có hiệu lực, cả đường hỗ trợ và đường kháng cự phải được giá tiếp xúc hai lần.

Hướng và thời điểm phá vỡ của mô hình tam giác tăng

Kirkpatrick và Dahlquist cho rằng tam giác cân phá vỡ theo chiều hướng lên 77% và điểm phá vỡ này trung bình khoảng 61% của mô hình tam giác (đáy hoặc bên trái của tam giác, sẽ được coi là 0% và đỉnh, hoặc bên phải cạnh của tam giác, sẽ được coi là 100%) (2010, tr. 317).

Hiệu suất giá phá vỡ của mô hình tam giác tăng

Hiệu suất của mô hình tam giác tăng dần như sau (Kirkpatrick và Dahlquist, 2010, tr. 315):
Giá phá vỡ lên trên: Giá không thể tăng ít nhất 5% từ điểm phá vỡ 13%; mức tăng tối đa trung bình trước khi giảm 20% là 35%.
Giá phá vỡ xuống dưới: Giá không thể tăng ít nhất 5% từ điểm phá vỡ 11%; mức tăng tối đa trung bình từ việc bán khống trước khi đảo chiều tăng 20% là 19%.

Mục tiêu giá phá vỡ của mô hình tam giác tăng

Bulkowski (2008) đề xuất các mục tiêu giá phá vỡ sau cho tam giác tăng dần:

Giá phá vỡ lên trên của tam giác tăng:
Giá cao nhất của tam giác + ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)*75%)

Giá phá vỡ xuống dưới của tam giác tăng:
Giá phá vỡ – ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)*68%)

Biểu đồ minh họa của mô hình tam giác tăng

Biểu đồ trên của Cisco Systems (CSCO) minh họa của mô hình hình tam giác tăng. Như dự đoán, giá phá vỡ lên trên và sự phá vỡ xảy ra khoảng 2/3 của tam giác.

Mô hình tam giác giảm

Mô hình tam giác giảm xảy ra khi có một đường kháng cự dốc xuống và một đường hỗ trợ nằm ngang gặp nhau ở phía bên phải của mô hình (tức là đỉnh). Để mô hình tam giác có hiệu lực, cả đường hỗ trợ và đường kháng cự phải được giá tiếp xúc hai lần.

Hướng và thời điểm phá vỡ của mô hình tam giác giảm

Kirkpatrick và Dahlquist cho rằng hình tam giác giảm phá vỡ xuống dưới 64% (2010, trang 315).

Hiệu suất giá phá vỡ của mô hình tam giác giảm

Hiệu suất của mô hình tam giác giảm như sau (Kirkpatrick và Dahlquist, 2010, trang 315):
Giá phá vỡ lên trên: Giá không thể tăng ít nhất 5% từ điểm phá vỡ chỉ 7%; mức tăng tối đa trung bình trước khi giảm 20% là 47%.
Giá phá vỡ xuống dưới: Giá không tăng ít nhất 5% từ điểm phá vỡ 16%; mức tăng tối đa trung bình từ việc bán khống trước khi đảo chiều 20% trở lên là 16%.

Mục tiêu giá phá vỡ của mô hình tam giác giảm

Bulkowski (2008) đề xuất các mục tiêu giá phá vỡ sau cho mô hình tam giác giảm:

Giá phá vỡ lên trên của tam giác giảm:
Giá phá vỡ + ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)*84%)

Giá phá vỡ xuống dưới của tam giác giảm:
Giá thấp nhất của tam giác – ((Giá cao nhất của tam giác – Giá thấp nhất của tam giác)*54%)

Biểu đồ minh họa của mô hình tam giác giảm phá vỡ xuống dưới

Biểu đồ trên của Chevron (CVX) cho thấy 01 mô hình tam giác giảm phá vỡ xuống dưới. Lưu ý rằng với mô hình tam giác giảm, đường kháng cự giảm dần trên cùng minh họa rằng các thanh giá có mức thấp hơn. Đường hỗ trợ dưới cùng hoạt động như hỗ trợ trong 11 ngày, khi hỗ trợ bị phá vỡ, giá sẽ giảm xuống thấp hơn.

Biểu đồ minh họa của mô hình tam giác giảm phá vỡ lên trên

Biểu đồ này của AT&T (T) cho thấy 01 mô hình tam giác giảm phá vỡ lên trên. Theo nghiên cứu của Bulkowski (2005), tam giác giảm dần với phá vỡ lên trên đạt mức tăng tối đa trung bình là 47% (đây là mức tăng đạt được trước khi xảy ra bất kỳ sự sụt giảm 20% nào).

Nguồn tham khảo:

  1. Kirkpatrick II, C.D., & Dahlquist, J.R. (2010). Technical Analysis: The Complete Resource for Financial Market Technicians (2nd ed.). Upper Saddle River, NJ: FT Press.
  2. Rockefeller, B. (2011). Technical Analysis For Dummies (2nd ed.). Hoboken: John Wiley & Sons.
  3. The Pattern Site. (2008). Bulkowski’s Measure Rule. Retrieved June 1, 2012, from http://thepatternsite.com/measure.html
  4. The Pattern Site. (2005). Bulkowski’s Ascending Triangles . Retrieved June 1, 2012, from http://thepatternsite.com/at.html
  5. The Pattern Site. (2005). Bulkowski’s Descending Triangles . Retrieved June 1, 2012, from http://thepatternsite.com/dt.html
  6. The Pattern Site. (2005). Bulkowski’s Symmetrical Triangles . Retrieved June 1, 2012, from http://thepatternsite.com/st.html

Copyright @ www.finvids.com

Về tác giả

Viết nhận xét